21 thg 11, 2008

Phùng Quán

I/ Tiểu sử



Photobucket



Phùng Quán, sinh tháng 1 năm 1932, tại quê xã Thuỷ dương, huyện Hương thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt nam (tiền thân của tạp chí Văn nghệ quân đội). Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm. Khi phong trào này chấm dứt dưới tác động của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phùng Quán bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi. Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác. Năm 1988, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó. Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ nổi tiếng như: Lời mẹ dặn, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe... Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà nội.
Năm
2007, ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.

II/ Tác Phẩm:


1. Vượt Côn Đảo (tiểu thuyết, 1955) - Giải thưởng Nhà nước 2007
2. Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (thơ, 1955) - Giải thưởng Nhà nước 2007
3. Tuổi thơ dữ dội (tiểu thuyết, 1988) - Giải thưởng Nhà nước 2007
4. Trăng hoàng cung (tiểu thuyết thơ, 1993)
5. Thơ Phùng Quán (thơ, 1995)
6. Ba phút sự thật (ký, 2006)








Photobucket

Viết bởi Ngô Minh


Cố nhà thơ Phùng Quán vừa được Hội đồng giải thưởng Quốc gia đề xuất tặng giải thưởng Nhà nước cho 3 tác phẩm lớn của đời anh: “Vượt Côn Đảo”, (tiểu thuyết - 1955); “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo”, (trường ca - 1955), “Tuổi thơ dữ dội”, (tiểu thuyết -1989). Đây là sự tôn vinh tài năng, nhân cách và thành tựu văn chương của anh...


1984, Phùng Quán về Huế sau gần 40 năm xa quê. Anh để râu dài như ông lão trong chuyện cổ tích, đội chiếc mũ cói xứ Nghệ, khoác chiếc bị cói, cưỡi chiếc đạp gọi là “xe trâu” Liên Xô cao lêu nghêu, mặc chiếc áo mán khuy bấm, quần bò sờn cũ. Anh đi đôi dép tự chế bằng lốp ôtô, đế bố dày tới mười phân. Tôi xỏ đi thử thấy nặng không lê được chân. Thế mà anh vẫn đi bình thường trong bao nhiêu năm ròng! Hỏi anh, anh vuốt râu cười, mắt chớp chớp hiền từ: “Dép nặng thế mới đứng vững trên mặt đất”.


Anh một mình một mốt, không lẫn vào đâu được. Trông có vẻ lập dị, ngang tàng, nhưng anh lại hiền khô. Ở nhà tôi, anh đi chợ Bến Ngự mua cá chép, dưa chua về, rồi vào bếp thổi cơm, nhặt rau, mổ cá, chẻ củi. Thời gian này anh bị một thiếu phụ đài các Huế hớp hồn, nên “hồi sinh’’ với thơ. Một loạt bài thơ gan ruột thấm đẫm tình đời, tình người, tình quê “bùng cháy” như: “Trái thơ”, “Trăng Hoàng Cung”, “Tôi khóc”, “Mưa Huế”, “Chán chộ”, “Quả bí xanh” v.v... Anh có chép lại rất nắn nót một bản bằng bút học trò mực tím trên tập giấy kẻ dòng tặng tôi với đề từ “Tiểu thuyết tình 13 chương viết trên giấy có kẻ dòng”. Năm 1993, in thành sách với nhan đề “Trăng Hoàng Cung”.


Tặng sinh nhật người yêu bằng… trái bí xanh


Ngay cả trong tình yêu, Phùng Quán cũng khác người. Sinh nhật “nàng thơ” không phải tặng hoa, mà anh tặng... quả bí xanh! Ngày sinh nhật nàng, anh rủ tôi đạp xe xuống Thủy Dương quê anh xa 7 cây số, thỉnh một trái bí to, da căng mọng màu ngọc bích. Rồi anh cặm cụi đề thơ lên da bí. Chúng tôi lấy bao tải, quần áo cũ bọc trái bí cẩn thận, xong, anh ôm bí ngồi xích lô lên Huế.
Trưa hôm ấy, hàng trăm người ngạc nhiên trước món quà tặng quá bất ngờ của thi sĩ Phùng Quán: Đó là một quả bí xanh lớn có bài thơ đề trên da bí mà anh gọi là khối thiên thần màu ngọc bích! Anh nâng tặng vật nặng trĩu trên tay, nói trong tiếng thở gấp: “Tặng vật tôi mang từ quê nội tặng sinh nhật em đây!”. Nàng thơ bước vội sau tấm màn gió, cầm ra chiếc gối còn dính vài sợi tóc của nàng để làm gối cho anh đặt “trái bí thơ”. “Trên da bí/ Màu men ngọc lý/ Tôi tạc câu thơ/ Buồn như lửa/ Hỏa táng trái tim...”.


Quà sinh nhật tặng người tình như thế tôi thưa thấy bao giờ. Nó vừa ngộ nghĩnh, xa xót, vừa bản chất như chính sự hồn nhiên chứa chan của cuộc sống!


Đi sáu tháng chưa tới Côn Đảo


Tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo” Phùng Quán viết sau một chuyến đi gặp gỡ tiếp nhận tù nhân trao trả tại Sầm Sơn, Thanh Hóa năm 1954, chứ anh chưa ra Côn Đảo bao giờ. Tiểu thuyết được giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1956 và trở thành quyển sách “gối đầu giường” của bộ đội ta lúc bấy giờ. Năm đó, Ban Thống nhất Trung ương đã mua 3.000 cuốn Vượt Côn Đảo để để gửi tặng đồng bào miền Nam. Phùng Quán được mời lên ký tặng sách. Vì những lý do đó, năm 1987, anh Lê Quang Vịnh, người Huế (nhân vật nổi tiếng trong đấu tranh chống Mỹ - Diệm, có câu hát “Lê Quang Vịnh người con quang vinh...), lúc đó là Bí thư Huyện ủy Côn Đảo, đã gửi thư mời tác giả tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo” ra thăm đảo. Phùng Quán sướng run người, vì đây là dịp để kiểm chứng lại những gì mình viết.


Anh lặng lẽ bị cói, áo mán quần bò, xe cuốc Liên Xô... lên tàu hỏa đi “Côn Đảo”. Anh vào Vinh, rồi Đồng Hới, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Nha Trang... Anh định đi dần từng chặng đến TP HCM sẽ đi tàu thủy ra Côn Đảo. Nhưng tính anh thích gặp gỡ, người yêu thơ cả miền Trung dằng dặc nghe tên, thuộc thơ anh nhưng lần đầu mới gặp người, nên cứ níu kéo đòi anh đọc thơ hoài. Thế là anh đọc thơ “phục vụ nhân dân” ngày này sang ngày khác. Mỗi nơi anh ở tới một vài tuần, có nơi như Huế anh ở tới hai tháng. Đợt đó ở Đà Nẵng anh có hàng chục cuộc đọc thơ bốc lửa, trong đó những cuộc đọc thơ rất ấn tượng

Hoa Sen.

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Mặc cho câu ca được cả nước lưu truyền

Và đời vẫn tin là ca ngợi phẩm chất của sen.

Nhưng tôi không thể nào tin được

Câu ca này gốc gác tự nhân dân

Bởi câu ca sặc mùi phản trắc

Của những phường bội nghĩa vong ân!

Vốn con cái của giai cấp cùng khổ

Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son

Nghĩ đến cha mẹ chúng xấu hổ

Chúng mưu toan giấu che từ bỏ

Nói xa gần chúng mượn chuyện sen….

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Tất cả là trong cái chữ “gần”

Chỉ một chữ mà ta thấu gan thấu ruột

Những manh tâm bội nghĩa vong ân.

Bùn với sen đâu phải chuyện gần ?

Chính là sen mọc lên từ trong đó

Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh…

Tất cả, tất cả, tất cả!…

Là do bùn hôi nuôi dưỡng

Ngay cả hương thanh khiết ta đặt lên bàn thờ cúng

Cũng là xương thịt của bùn tanh!

Như nhân dân

Gian truân, thầm lặng, vô danh

Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sĩ…
Nhân danh bùn

Nhân danh sen

Tôi đề nghị:

Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian!

Lời mẹ dặn

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi

Mẹ tôi thương con không lấy chồng

Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải

Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ

Ngày ấy tôi mới lên năm

Có lần tôi nói dối mẹ

Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn

Ôm tôi hôn lên mái tóc

- Con ơitrước khi nhắm mắt

Cha con dặn con suốt đời

Phải làm một người chân thật.

- Mẹ ơi, chân thật là gì?

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

Con ơi một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:

- Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

- Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin

Cho tôi là con vẹt nhỏ

Nhưng không! Những lời dặn đó

In vào trí óc của tôi

Như trang giấy trắng tuyệt vời

In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Người làm xiếc đi dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thậtchân thật trọn đờ

iĐường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôiS

ét nổ trên đầu không xô tôi ngãBút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
(1957)